CategoriesBài viết vĩ mô

Gói Tài khóa – Tiền tệ các quốc gia tung ra mùa Covid

Nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp vượt qua khó khăn, giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch Covid-19, Chính phủ và NHTW các nước đã thực hiện nhiều chính sách tiền tệ nới lỏng và tài khóa mở rộng, trong đó:

7 giải pháp chính về chính sách tiền tệ – tín dụng:

  1. Hạ lãi suất điều hành tạo định hướng lãi suất và giảm lãi suất cho các tổ chức tín dụng (qua kênh cho vay tái cấp vốn, tái chiết khấu) để các tổ chức tín dụng (TCTD) có thể hạ lãi suất cho vay (đa số các nước, trong đó có cả Việt Nam);
  2. Hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc để các TCTD có thêm nguồn vốn cho vay, qua đó gián tiếp bơm thêm tiền vào nền kinh tế (như Mỹ, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia);
  3. Hỗ trợ thanh khoản thị trường thông qua cam kết mua trái phiếu chính phủ, trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) và chứng khoán thế chấp bằng nhà ở (như Mỹ có gói nới lỏng định lượng trị giá 700 tỷ USD để mua lại các khoản vay, trái phiếu; EU có chương trình mua trái phiếu khẩn cấp (PEPP) trị giá 1.350 tỷ EUR đến giữa năm 2021, bổ sung 120 tỷ EUR cho chương trình mua tài sản năm 2020, Nhật Bản tăng hạn mức mua trái phiếu, thương phiếu doanh nghiệp lên 7.400 tỷ Yên (70 tỷ USD); Trung Quốc mua lại các khoản cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ nhằm tăng thanh khoản và nguồn vốn rẻ cho các NHTM;
  4. Cho các NHTM vay lãi suất thấp để có thể cho doanh nghiệp vay với lãi suất ưu đãi hơn (một dạng hỗ trợ lãi suất như Anh, Nhật, Thái Lan);
  5. Tung gói tín dụng ưu đãi để hỗ trợ thanh khoản và trả lương (Hàn Quốc, Nhật Bản, Anh, Việt Nam);
  6. Cho phép giãn, hoãn nợ, giữ nguyên nhóm nợ và cho vay mới với lãi suất ưu đãi hơn (Việt Nam, Trung Quốc, Anh);
  7. Tăng cường các biện ổn định tỷ giá và thanh khoản của hệ thống tài chính thông qua việc thực hiện thỏa thuận hoán đổi tiền tệ (Mỹ, Canada, Nhật Bản, Châu Âu, Thụy Sỹ);

9 Giải pháp tài khóa:

Các nền kinh tế lớn đều liên tiếp công bố các gói hỗ trợ với quy mô trung bình tương đương 18% GDP (đặc biệt Đức công bố các gói hỗ trợ lên tới 33% GDP và Nhật Bản 21% GDP). Tại Châu Á, các quốc gia cũng đã có các gói hỗ trợ với quy mô nhỏ hơn như Ấn Độ, Thái Lan, Singapore, Malaysia khoảng 10-14% GDP; Trung Quốc (6,5% GDP); Việt Nam, Phillippines, Indonesia có quy mô chỉ ở mức từ 1,5-6% GDP. Các gói tài khóa nhìn chung tập trung vào 9 mục đích chính:

Continue reading
CategoriesBài viết vĩ mô

[LẠM PHÁT MỤC TIÊU – P2]

Khi mà cả tỷ giá hối đoái và tổng lượng tiền tệ đều không thể hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ làm “cái neo danh nghĩa”, các nước bắt đầu chuyển sang cuộc hành trình tiếp theo, đó là lấy “lạm phát mục tiêu” làm chiến lược thực thi chính sách tiền tệ.

Đầu tiên là New Zealand vào năm 1990, kế tiếp là Canada vào năm 1991, Anh năm 1992. Sự hiệu quả tuyệt vời trong việc thực thi chính sách ở cả 3 quốc gia trên đã tạo động lực để Thụy Điển, Phần Lan, Úc, Tây Ban Nha, … và hàng loạt quốc gia khác gia nhập sau đó.

Thành quả của chính sách “lạm phát mục tiêu” đến 3 quốc gia triển khai đầu tiên

Nhiều người lầm tưởng chiến lược “lạm phát mục tiêu” với mấy cái mục tiêu mà quốc hội Việt Nam đặt ra hàng năm về lạm phát là một. Thực tế 2 cái này hoàn toàn khác nhau. Tại sao lại như vậy?

Chúng ta cần hiểu khi coi một chỉ tiêu làm “cái neo danh nghĩa” thì NHTW phải kiên định với mục tiêu đó trong dài hạn, coi đó là mục tiêu then chốt, các mục tiêu khác chỉ là thứ yếu. Nếu các NHTW coi lạm phát là mục tiêu này thì:

(1) Họ phải công khai rõ ràng về con số lạm phát mục tiêu trong trung dài hạn (không phải ngắn hạn hàng năm) với dân chúng.
(2) Cam kết về mặt thể chế đối với mục tiêu đó, coi đó là tôn chỉ chính sách của mình.
(3) Thông tin đầy đủ và minh bạch về mọi biến số sẽ tác động đến lạm phát, không chỉ riêng tổng lượng tiền tệ.
(4) Lạm phát chính là KPI đo lường mức độ năng lực điều hành của NHTW trong mắt dân chúng.

Continue reading
CategoriesBài viết vĩ mô

Lạm phát mục tiêu – Phần 1

Mấy hôm nay thị trường nóng hổi vụ Fed công bố thay đổi cái gọi là “quan điểm về lạm phát mục tiêu”. Mình thấy dường như truyền thông đang làm thái quá vấn đề, bởi với cá nhân mình, bản chất cũng chẳng có gì mới cả. Tại sao mình lại có quan điểm như vậy?

Để hiểu được xuất thân của khái niệm “Lạm phát mục tiêu” bạn cần phải hiểu về khái niệm “cái neo danh nghĩa”. Vậy cái neo danh nghĩa là gì? Hiểu đơn giản thì là thế này.

Mục tiêu cuối cùng của một chính sách tiền tệ là: Tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả và việc làm cao. Tuy nhiên những khái niệm này lại rất mông lung và đôi khi gây phức tạp cho người dân và cả cơ quan quản lý khi thực thi.

Chính vì thế cần phải có “1 mục tiêu” đáp ứng được bài toán: Nếu mục tiêu này thỏa thì cả 3 mục tiêu kia về dài hạn đều sẽ thỏa và nó phải đơn giản, dễ hình dung để người dân có thể hiểu được cơ quan quản lý nói gì. Cái mục tiêu mà chúng ta đang nhắc tới chính là “cái neo danh nghĩa”.

Mặt khác, khi một quốc gia xác định rõ “cái neo danh nghĩa” điều hành chính sách tiền tệ là gì, quốc gia đó sẽ không bị mắc bẫy “chính sách tiền tệ tùy nghi” và từ đó hình thành lên một thứ được gọi là “chính sách tiền tệ nhất quán theo thời gian”. Fed muốn được sở hữu từ “nhất quán” đó, không biết bao nhiêu “máu” của người Mỹ đã phải đổ xuống.

Quay trở lại với chủ đề chính, đầu tiên thì người ta chọn “cái neo danh nghĩa” là Tỷ giá hối đoái. Dùng chính tỷ giá để neo lạm phát và từ đó đạt được mục tiêu về dài hạn. Đôi khi hạnh phúc của thống đốc 1 NHTW chỉ đơn giản là neo thành công tỷ giá của nước mình với đồng tiền “vật chủ”, chuyện còn lại thì chỉ là ăn ké “vật chủ”. Quan trọng là người dân cũng chấp nhận điều đó, lý do là bởi họ tin “vật chủ” hơn tin mấy ông chính trị gia trong nước.

Continue reading
CategoriesBài viết vĩ mô

Năng lực can thiệp vàng của NHNN

Đầu năm mình có viết một bài về Vàng và dự báo cho việc giá Vàng sẽ tăng nhanh trong năm nay, bài viết nhận khá nhiều gạch đá, nhưng may mắn là giá vàng đã tăng, thậm chí còn tăng nhanh đến mức đáng báo động. Hôm qua TS.Phan Minh Ngọc có một bài viết về khả năng can thiệp vào thị trường vàng của NHNN, mình xin note lại một số quan điểm của TS Ngọc và thêm một vài quan điểm cá nhân về chủ đề này.

Về nguyên tắc khi một thị trường nào đó tăng nóng và có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh tài chính quốc gia, chính phủ sẽ phải chủ động can thiệp để mọi thứ không vượt quá tầm kiểm soát. Ngoài USD thì Gold luôn là chủ đề nóng được nhắc đến, 2 cái này chúng ta không sản xuất và in ra được.

Dưới đây là một số cách mà SBV có thể sẽ sử dụng khi thực sự cần can thiệp vào thị trường vàng, còn chọn cách nào thì mình tin thống đốc Hưng sẽ đưa ra phương án tốt nhất, với mình, bác Hưng là thống đốc đỉnh nhất rồi.

Đầu tiên là xuất vàng trong két của SBV

Nhưng vấn đề là SBV hiện tại có bao nhiêu vàng trong két, liệu có đủ giải cơn khát vàng? Theo số liệu từ CEIC thì tính trung bình 5 tháng đầu năm SBV có khoảng 330 ounce vàng (tương đương 9.2 tấn) trong dự trữ ngoại hối, nếu quy đổi theo giá vàng 2000$/ounce thì giá trị sẽ vào khoảng 660 triệu USD. Con số này chiếm khoảng 0.776% tổng giá trị dự trữ ngoại hối của Việt Nam. Tỷ lệ này là rất nhỏ so với mặt bằng chung, xem thêm hình bên dưới.

Theo số liệu dự báo từ phía cơ quan chức năng Việt Nam thì năm 2018 có khoảng 500 tấn vàng đang nằm trong dân. Như vậy nếu con số này là đúng thì 9.2 tấn trong SBV chỉ chiếm 0.2% tổng lượng vàng mà người dân đang nắm giữ. Con số này là quá nhỏ để “giải khát” thị trường.

Continue reading
CategoriesBài viết vĩ mô

Quan sát và chờ đợi

Đêm qua SBV đã tung tin giảm lãi suất điều hành. Những bài báo liên quan đến chủ đề này được khá nhiều sự quan tâm khi có hàng ngàn lượt like và chia sẻ. Chứng tỏ chính sách tiền tệ trong nước vẫn đang được giới đầu tư follow khá kỹ, tuy nhiên dưới đây là một số điều chúng ta nên hiểu hơn về giai đoạn này. Trước tiên hãy xem 4 biểu đồ trong hình dưới.

Lần hạ lãi suất này khác với những lần trước đó, SBV không nhắc tới lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn mà chỉ hạ lãi suất tiền gửi bắt buộc và tiền gửi vượt mức của NHTM tại SBV. Ở Mỹ thì lãi suất vượt mức (Interst Rate on Excess Reserves) được coi là lãi suất rất quan trọng, nó từng được Fed rất trọng dụng để điều phối Effective Fed Fund Rate. Tuy nhiên ở Việt Nam lãi suất này vẫn không phải một chỉ báo quan trọng, hệ thống ngân hàng có dư tiền cũng không ưu tiên để tại SBV.

Continue reading
CategoriesBài viết vĩ mô

Bình luận chút về đợt hạ lãi suất

Lần hạ lãi suất này của NHNN mang tính chất “thị trường” và “tự nhiên” khi hội tụ đủ hai yếu tố cơ bản: lạm phát đã dần hạ nhiệt và thanh khoản hệ thống Ngân hàng tương đối dồi dào. Tuy nhiên, mức độ tác động sẽ không lớn.

Như công bố chiều ngày 12/05/2020, NHNN sẽ giảm một loạt các loại lãi suất điều hành. Theo đó, lãi suất tái cấp vốn từ 5,0%/năm xuống 4,5%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 3,5%/năm xuống 3,0%/năm; lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở từ 3,5%/năm xuống 3,0%/năm.

Ngoài ra, NHNN cũng giảm trần lãi suất áp dụng đối với tiền gửi dưới 1 tháng từ 0,5%/năm xuống 0,2%/năm; tiền gửi có kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng từ 4,75%/năm xuống 4,25%/năm. Chưa áp trần lãi suất huy động có kỳ hạn dài hơn.

Một quyết định mang tính chất “thị trường”

Như chúng ta biết, hai điều kiện quan trọng nhất để lãi suất thị trường giảm là lạm phát kỳ vọng giảm và thanh khoản hệ thống dồi dào. Hiện tại cả 2 yếu tố này đều đang ủng hộ cho xu hướng giảm lãi suất.

Continue reading
error: Nội dung đã được bảo vệ!