CategoriesBài viết ngành

Các NHTM giấu nợ xấu như thế nào

Có nhiều lý giải khác nhau về sự chênh lệch các con số nợ xấu của ngân hàng. Tuy nhiên, chính lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cũng thừa nhận tình trạng giấu nợ của các tổ chức tín dụng (TCTD). Thực tế này cùng với khó khăn trong việc xử lý nợ xấu chẳng khác nào là các ngân hàng đang nuôi bệnh ung thư trong cơ thể vốn đã không khỏe mạnh.

Hiện con số nợ xấu theo công bố của NHNN (202.000 tỷ đồng – chiếm 8,6% tổng dư nợ) thì nó lớn gấp 2 lần con số thống kê của các tổ chức tín dụng (117.000 tỷ đồng – chiếm 4,47% tổng dư nợ). Điều đó cho thấy không ít các tổ chức tín dụng đã không minh bạch, thậm chí cố tình che giấu nợ xấu. Có khoảng 85.000 tỷ đồng không được các tổ chức tín dụng đưa vào nợ xấu. Cũng có nghĩa từng ấy nợ xấu chưa được trích lập dự phòng rủi ro. Đó là chưa kể việc phân loại nợ xấu của Việt Nam hiện còn cách khá xa so với chuẩn quốc tế, chủ yếu dựa vào các định lượng về số ngày quá hạn trả nợ đơn thuần nên chưa chính xác.

Thậm chí, nếu căn cứ báo cáo của các TCTD thì không TCTD nào có nợ xấu quá cao và còn đều có lãi, nhưng khi NHNN thực hiện kiểm tra lại phát hiện có TCTD nợ xấu trên 30% hay cao hơn. Đau đớn thay có TCTD mất cả vốn điều lệ.

Vì sao ngân hàng phải lách quy định phân loại nợ xấu?

Nợ xấu là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng, từ đó có thể thấy được sức khỏe tài chính, kỹ năng quản trị rủi ro… của ngân hàng đó. Do đó, việc kiểm soát tỷ lệ nợ xấu tốt có thể giúp ích rất nhiều cho TCTD, chẳng hạn như:
• Khách hàng tin tưởng hơn vào chất lượng hoạt động, quản lý của ngân hàng. Từ đó sẽ giúp đảm bảo hoạt động ổn định và gia tăng thêm khách hàng, mở rộng kinh doanh dễ dàng hơn hay thu hút được sự quan tâm của nhà đầu tư nhờ báo cáo tài chính lành mạnh.
• Giảm bớt chi phí trích lập dự phòng, đảm bảo lợi nhuận kinh doanh đạt mục tiêu, làm vui lòng cổ đông và cấp quản lý nhận được các khoản chia thưởng hấp dẫn.

Nợ xấu được làm đẹp như thế nào?

• Đảo nợ.

Đây là một trong những cách được áp dụng khá phổ biến. Hình thức này sẽ được áp dụng khi khách hàng vẫn còn khả năng “xoay sở” đủ số tiền để trả nợ gốc khi đáo hạn, rồi sau đó ngân hàng sẽ nhanh chóng giải ngân trở lại, giúp “châu về hợp phố”.

Dễ hiểu hơn thì “đảo nợ”, tức là cho vay mới để trả nợ cũ. Như vậy tổng dư nợ không thay đổi song thời điểm phát sinh khoản vay có thể thay đổi, kéo theo thời điểm trả nợ cũng thay đổi. Do đó có khoản nợ để nguyên sẽ xếp vào loại nợ quá hạn, nợ xấu nhưng khi đảo nợ thì món nợ được nghiễm nhiên trở thành nợ nhóm 1. Nghĩa là bảng cân đối tài sản sẽ “sạch sẽ” và các tổ chức tín dụng cũng không phải trích lập dự phòng rủi ro, giúp cải thiện các con số về lợi nhuận.

Có trường hợp lại đi lòng vòng. Không cho doanh nghiệp A vay để đảo nợ, mà cho doanh nghiệp B vay, sau đó doanh nghiệp A lấy khoản tiền vay của B để đảo nợ và ngân hàng hạch toán khoản nợ mới sang cho doanh nghiệp B.

• Cơ cấu lại nợ vay.

Một cụm từ cũng thường được dùng trong thời gian gần đây là cơ cấu lại nợ vay. Đây là việc ngân hàng điều chỉnh kỳ hạn trả nợ hoặc gia hạn nợ cho khách hàng. Với việc cơ cấu lại nợ vay này thì ngân hàng cũng không cần phải điều chỉnh tăng nhóm nợ lên mức xấu hơn đối với các khoản vay không được hoàn trả đúng hạn. Nói cách khác thì đây cũng là một cách thức để ngân hàng không phải tăng ghi nhận nợ xấu trên sổ sách kế toán.

Về nguyên tác thì cơ cấu lại nợ là điều hoàn toàn hợp lý nhằm giúp khách hàng vượt qua giai đoạn khó khăn, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ một cách hợp lý. Nhưng nếu như trong quá trình cơ cấu lại nợ, các NHTM thực hiện mà không đánh giá kỹ khả năng trả nợ đầy đủ gốc và lãi đúng hạn của khách hàng, chỉ thực hiện giải quyết vấn đề khó khăn trả nợ trước mắt cho khách hàng thì điều này sẽ làm gia tăng thêm rủi ro hệ thống NHTM.

Tỷ lệ nợ xấu thấp nhưng thực tế đã ở một mức cao hơn rất nhiều do khách hàng được cơ cấu nợ. Khi cơ cấu nợ cho khách hàng như vậy, nợ lãi có thể được nhập vào nợ gốc và điều này sẽ làm tăng thêm dư nợ vay của NHTM nhưng thực tế, dòng tiền lại chưa hề quay về với NHTM.

​• Lách nợ xấu bằng việc mua trái phiếu doanh nghiệp.

Một hình thức cho vay nhưng tránh được việc phải trích lập dự phòng nợ xấu là mua trái phiếu doanh nghiệp. Mặc dù hiện nay các khoản mua trái phiếu doanh nghiệp vẫn bị tính chung vào tăng trưởng tín dụng, nhưng điều này không thực sự quan trọng. Nhiều ngân hàng sẵn sàng hoán chuyển các khoản vay tín dụng thành mua trái phiếu doanh nghiệp. Trái phiếu doanh nghiệp vẫn chịu quy định trích lập dự phòng nhưng chỉ dưới dạng đầu tư và giúp ngân hàng tránh khỏi bị “mang tiếng” phát sinh nợ xấu dù vẫn ảnh hưởng đến lãi lỗ.

• Thành lập liên minh tài chính.

Cam kết xây dựng các công ty liên kết (không nắm cổ phần chi phối), các công ty cùng hệ thống và chuyển các khoản nợ xấu qua các công ty này thông qua các hợp đồng đầu tư, góp vốn, ủy thác, mua bán nợ… Đây là cách thường được dùng để che giấu những khoản đầu tư thua lỗ, tránh phải trích lập dự phòng.

Các liên minh ngân hàng này giải ngân lòng vòng giữa các khách hàng có mối quan hệ liên minh với nhau mục tiêu giúp các khách hàng này có dòng tiền để trả nợ. Nếu một khách hàng trong “liên minh” có nguy cơ bị nợ quá hạn hoặc nghiêm trọng hơn là bị nợ xấu, để giúp khách hàng này tránh phải chuyển nhóm nợ, nhiều NHTM có thể cho một doanh nghiệp khác hoặc cá nhân khác trong “liên minh” vay để giúp khách hàng này dùng tiền vay trên trả nợ. Bằng cách này, tuy dư nợ của NHTM với “liên minh” khách hàng trên thực tế không thay đổi, nhưng nợ vẫn được đảm bảo đủ tiêu chuẩn, và không phải trích dự phòng.

Với hàng loạt các chiêu thức lách nợ xấu như hiện nay thì rõ ràng việc ghi nhận đúng thực trạng nợ xấu tại các TCTD là một thách thức không nhỏ đối với các cơ quan chức năng, còn có lẽ đối với anh em thường dân chúng ta thì “botay” với những con số thực về nợ xấu.

CategoriesBài viết ngànhBài viết vĩ mô

Mô hình phá sản ngân hàng và công ty tài chính truyền thống

Trong cuộc trả lời phỏng vấn dành riêng cho Bloomberg hôm 28/11, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố ‘Không để xảy ra đổ vỡ ngân hàng có hệ thống’, với câu phát ngôn này mình đã tham khảo trên các tài liệu và xây dựng ra mô hình sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng truyền thống.

Bài viết mục đích không phải muốn ám chỉ rằng hệ thống NHTM trong nước có nguy cơ sụp đổ mà chỉ là 1 bài tham khảo để từ đó chúng ta nhìn nhận lại những yếu tố gây ra sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng trên thế giới và từ đó khắc phục những căn nguyên này.  

​Trong mô hình có 3 đối tượng chính (tô màu vàng) là những chủ thể quan trọng tạo nên sự vận động của mô hình: Chính phủ, ngân hàng trung ương, ngân hàng công ty tài chính trong ngoài nước và dân chúng. Đây là 3 chủ thể tạo xây dựng và làm sụp đổ hệ thống.

Những nguyên nhân gây ra sự sụp đổ bao gồm:

  • Môi trường cạnh tranh không lành mạnh của các ngân hàng và tổ chức tài chính
  • Không có bảo hiểm tiền gửi hoặc bảo hiểm tiền gửi yếu kém.
  • Sự hiện đại hóa toàn cầu của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tìa chính toàn cầu.
  • Sự yếu kém trong nhiều mặt của các ngân hàng và công ty tài chính
  • Chính phủ tác động vào quá trình đi vay và cho vay
  • Luật pháp ngăn cản việc phá sản.

Những hậu quả kéo theo:

  • Mất khả năng chi trả dẫn đến phá sản
  • Rút vốn hàng loạt khi mất niềm tin vào hệ thống ngân hàng và nền kinh tế dẫn đến những xáo trộn lớn trong hoạt động của toàn bộ nền kinh tế quốc gia
  • Doanh nghiệp hoạt động khó khăn và phá sản hàng loạt khi không tiếp cận vốn.
CategoriesBài viết vĩ mô

Dự báo chu kỳ kinh tế bằng Investment Clock

Trước đây tôi đã từng giới thiệu với các bạn về mô hình kinh điển “Kondratiev Waves”. Bài viết được khá nhiều bạn quan tâm và nghiên cứu, điều đó chứng tỏ không ít nhà đầu tư đã và đang quan tâm nhiều hơn đến việc ứng dụng yếu tố mang tính chu kỳ vào việc đầu tư của mình.

Nhà đầu tư huyền thoại Buffet từng nói “Công việc của chúng tôi chỉ đơn giản là sợ hãi khi người khác tham lam và tham lam khi người khác sợ hãi”, để làm được điều này thì chắc chắn ngoài khả năng phân tích doanh nghiệp tài ba thì bản thân Buffet cũng phải là người có độ nhạy với chu kỳ rất cao.

Kondratiev Waves chúng ta bắt gặp chu kỳ kinh tế theo từng mùa “Xuân – Hạ – Thu – Đông”, ứng với mỗi mùa là một trạng thái kinh tế khác nhau với muôn vàn gam màu. Ở mô hình Investment Clock thì lại khác, không phải là xuân hạ thu đông nữa mà là múi giờ, từng trạng thái nền kinh tế được ứng với múi giờ, với mỗi múi giờ lại là sự hưng thịnh hay suy tàn của một “sản phẩm đầu tư” khác nhau. Giờ thì chúng ta cùng đi sâu hơn xem nó là gì và tại sao nó đáng để chúng ta chiêm nghiệm.

Cũng tương tự như các mô hình chu kỳ khác, Investment Clock cũng chỉ ra sự phát triển của thị trường vốn, bất động sản hay thị trường tài chính nhưng nó được mô phỏng như là chuyển động của chiếc kim đồng hồ thay vì mô hình Sin, Wave hay các mùa trong năm.

  • Giai đoạn phát triển bùng nổ sẽ tương ứng với thời gian 9h-12h khi kim chỉ đồng hồ leo lên đến đỉnh.
  • Giai đoạn giảm tốc tương ứng với khoảng thời gian 12h-3h khi kim đồng hồ bắt đầu trượt xuống.
  • Giai đoạn suy thoái tương ứng với khoảng thời gian 3h-6h.
  • Giai đoạn qua đáy và bắt đầu phục hồi tương ứng với 6h-9h.

Giai đoạn bùng nổ được tính trong khoảng 9h-12h, biểu hiện của nó thường là kinh tế tăng trưởng rất nóng, lạm phát ở mức trung bình nhưng có xu hướng đi lên. Nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu đều tăng. Lãi suất ngân hàng có tăng nhưng chưa đến đỉnh. Giá bất động sản tăng cao. Thị trường chứng khoán tăng rất cao và có xu hướng tạo đỉnh. Lúc này hoạt động đầu tư dễ bị cuốn theo tâm lý đám đông.

Giai đoạn giảm tốc được nằm trong khoảng 12h-3h. Lúc này lãi suất bắt đầu tăng lên, dòng tiền chuyển dần ra khỏi các kênh đầu tư rủi ro để chuyển sang các kênh đầu tư an toàn hơn. Giá cả hàng hóa bắt đầu giảm xuống. Lợi nhuận của doanh nghiệp cũng giảm. Nhà Nước bắt đầu thắt chặt tiền tệ. Thị trường chứng khoán và bất động sản bắt đầu tụt dốc. Tính thanh khoản giảm.

Giai đoạn suy thoái từ 3h-6h. Lúc này lạm phát, lãi suất tăng mạnh. Nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ và giảm dự trữ ngoại tệ. Thị trường chứng khoán và bất động sản xuống thấp nhất. Giá hàng hóa giảm mạnh. Lợi nhuận các doanh nghiệp giảm mạnh, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn, thậm chí phá sản.

Giai đoạn khôi phục từ 6h-9h. Lúc này kinh tế đã qua đáy khủng hoảng. Lãi suất ngân hàng giảm dần, kinh tế dần hồi phục. Thất nghiệp giảm dần. Thị trường chứng khoán tăng trở lại. Giá hàng hóa, bất động sản phục hồi. Lợi nhuận doanh nghiệp được cải thiện.

Và cứ thế vòng quay lặp lại, từng múi giờ thay phiên nhau không ngừng chạy thể hiện những thăng trầm của nền kinh tế, của tâm lý đầu tư. Tôi khá thích ví von chiếc “Pin đồng hồ” trong mô hình này là “dòng vốn trong nền kinh tế” và các “bánh răng” là thế lực của nhà nước. Chỉ là vui thôi, chưa thực sự chuẩn xác về bản chất nhưng nó cũng giải thích được một vài yếu tố phản ánh các yếu tố làm sai lệch chu kỳ kinh tế của chúng ta.

Vậy chúng ta đang đứng ở đâu?

Lý thuyết một hồi dài, cái tựu chung lại duy nhất là trả lời cho câu hỏi: Việt Nam đang ở đâu?. Trước khi trả lời vấn đề này tôi cũng xin nhắc lại với các bạn 2 điều:

1. Tôi từng nói: Dòng vốn trong nền kinh tế giống như chiếc “Pin” trong mô hình kinh tế này, mà các bạn cũng biết rồi đấy, Pin đồng hồ của Việt Nam mình thì lúc nhiều điện, lúc thiếu điện, lúc chả có điện luôn, …… Dung lượng của Pin thay đổi liên tục, hậu quả là đồng hồ thế nào chắc các bạn cũng biết.

2. Tương tự với “bánh răng”, người tạo cơ chế và điều chỉnh nhịp điệu của các bánh răng là chính phủ, mà các bạn cũng biết là chính phủ của ta thì setup và activate thế nào rồi.

—–> Vì thế mong các bạn đừng hỏi vì sao Investment Clock và cả các thuyết chu kỳ khác đều loạn chưởng ở Việt Nam. Việc xác định “khung giờ” tại các quốc gia phát triển đã khó, ở Việt Nam việc đó còn khó khăn gấp nhiều.

Tuy nhiên với những gì đang thể hiện trong nền kinh tế trong và ngoài nước như: Lãi suất ngân hàng giảm dần, kinh tế dần hồi phục tuy còn chậm và ẩn chứa nhiều rủi ro, thất nghiệp ổn định dần, thị trường chứng khoán tăng trở lại, Lợi nhuận doanh nghiệp được cải thiện, bất động sản cũng đang cho dấu hiệu về một mức đáy tù —–> Chúng ta có thể dự đoán nền kinh tế của chúng ta đang ở mốc 6.15p – 6h45p. Đây là giai đoạn rất đẹp để các bạn trẻ tích lũy tài sản và tính chuyện làm giàu!

CategoriesBài viết đầu tư

Vẽ Lại quy trình “làm giá” một cổ phiếu

Khi đầu tư cổ phiếu, nhà đầu tư chuyên nghiệp thường nhìn vào nền tảng hoạt động của công ty, từ đó kỳ vọng dòng tiền tạo ra trong tương lai tăng trưởng sẽ tác động làm tăng giá cổ phiếu. Thế nhưng, những điều này gần như nằm ngoài “vọng tròn quan tâm” của nhà đầu tư nhỏ lẻ và đôi khi là cả đội ngũ môi giới.   

Trong thị trường chứng khoán, các biện pháp thao tác khống chế có thể nói là rất đa dạng. Việc các “tổ lái” chọn hình thức nào nhìn chung được quyết định bởi nhiều yếu tố, đôi khi do tính chất của từng doanh nghiệp, đôi khi do cá tính và trình độ của người thao tác cũng tạo ra biện pháp khống chế khác nhau, đôi khi những giai đoạn thị trường khác nhau cũng cần những “chiều thức” khác nhau.

Chính vì thế có thể nói là để hiểu hết được các chiều bài làm gía thì quả thức là một việc vô cùng khó khăn. Trong khuân khổ bài viết này chỉ xin giới thiệu đôi điều về chiêu thức làm giá phổ biến nhất tại thị trường Việt Nam.

Bước 1: Chọn cổ phiếu.

Cổ phiếu phải đạt một số các yêu cầu nhất định về tính chất kinh doanh, ban lãnh đạo, tỷ lệ cổ phiếu trôi nổi bên ngoài (Free-Float) và thanh khoản giao dịch. Nhìn chung một doanh nghiệp hội tụ đủ những yêu cầu dưới đây sẽ là một “miếng mồi ngon” đối với tổ lái:

  • Ban lãnh đạo có tầm ảnh hưởng lớn tới công ty nhưng ưa thích tác động giá cổ phiếu
  • Có thông tin tốt hỗ trợ đột biến trong tưởng lai ở kết quả kinh doanh hay dự án lớn
  • Khối lượng giao dịch hàng ngày thấp và ít được mọi người chú ý, tỷ lệ Free Float càng thấp càng tốt.
  • Vấn đề mấu chốt ở đây là phải được sự “đồng lòng” của ban lãnh đạo công ty đó.

Bước 2: Gom hàng hoặc mượn hàng.

Thỏa thuận với ban lãnh đạo công ty và các cá mập (các đại gia chứng khoán hoặc các tổ chức đang nắm giữ lượng lớn cổ phiếu). Song song với đó khởi tạo một mạng lưới nhà đầu tư “chân rết” với tiềm lực tài chính lớn sẵn sang ăn theo khi “tổ lái” phát động.

Nhiệm vụ của ban lãnh đạo trong công tác phối hợp là đưa ra thông tin khi đội lái yêu cầu và không được giao dịch lượng lớn cổ phiếu nếu chưa đến thời điểm cho phép. Sẵn sàng chuyển nhượng hoặc cho tổ lái “mượn tạm” một lượng cổ phiếu để đội lái có vũ khí trong tay chủ động kiểm soát cung cầu.

Cá mập cũng sẽ được chia phần nếu đảm bảo thỏa thuận giá bán có lợi cả đôi bên, cam kết không xả hàng vào thời điểm đội lái đẩy giá lên hay mua vào khi đội lái đè giá xuống. Nhà đầu tư “chân rết” cũng sẽ được hưởng thành quả nếu đồng lòng phối hợp cùng đội lái để tham gia đẩy giá cổ phiếu.

Bước 3: Đẩy giá giai đoạn đầu

Biểu hiện của việc đẩy giá “giai đoạn đầu” có thể nhận biết qua diễn biến giá được đẩy tăng cao với khối lượng mua áp đảo ngay từ đầu phiên giao dịch để tạo mức cầu lớn, dư mua ở mức giá trần và lệnh ATO tăng đột biến so với khối lượng khớp thông thường. Nhà đầu tư nhỏ lẻ đang cầm cổ lúc này chưa thể hiểu chuyện gì đang xảy ra nhưng với lượng mua chất quá khủng, họ sẽ không bán một cổ vì kỳ vọng sẽ còn những phiên như thế.

Nhà đầu tư chưa cầm cổ phiếu thì sẽ không thể mua nổi bởi giá trần liên tục ngay từ đầu phiên và không ai bán. Khối lượng giao dịch thành công trong các phiên “đánh thốc” là rất thấp.

Giá sau đó sẽ được đẩy lên liên tục vài ngày hoặc cá biệt đến vài tuần, khi đạt đến mức giá phù hợp đội lái sẽ tạo nền giá tích lũy ở đó và bắt đầu tung thông tin lên truyền thông một cách nhẹ nhàng (kể cả chính thống và phi chính thống). Mức giá phù hợp trong giai đoạn này được quyết định phần lớn bởi kế hoạch ban đầu sau khi điều chỉnh tình hình thị trường và lượng cung cầu thực tế giao dịch mà đội lái thống kê.

Bước 4: Đẩy giá thứ cấp

Sau giai đoạn tích lũy hoặc điều chỉnh để tạo nền giá “ban đầu”, kế đến sẽ là giai đoạn trọng yếu trong quá trình làm giá đó chính là “đẩy giá thứ cấp”.

Đặc điểm của cách thức đẩy giá này là khối lượng giao dịch sẽ phải tốt dần lên qua các phiên giao dịch, giá vẫn tăng mạnh nhưng không tăng trần liên tiếp. Giá biến động mạnh mẽ trong các phiên giao dịch để kéo nhà đầu tư mới vào chứ không dư mua áp đảo như giai đoạn trước đó.  

Giai đoạn này khối lượng sẽ càng ngày càng nhiều và thông tin trên truyền thông về cổ phiếu sẽ dày đặc, báo chí thường xuyên nhắc đến cơ hội đầu tư ở cổ phiếu này, tình hình kinh doanh cũng thể hiện sự đột biến, cổ phiếu cũng nhanh chóng trở thành tâm điểm của các diễn đàn như F319, F189,…..

Bước 5: Xả hàng (phân phối)

Sau quá trình đẩy giá, đội lái sẽ hoạch định việc xả hàng ở các mức giá khác nhau theo kế hoạch đã được lập sẵn. Đến đây sẽ có nhiều hình thức xả hàng, có thể là “xả hàng giá trần” bằng cách đặt mua ào ạt cổ phiếu ở giá trần nhằm tạo tâm lý hưng phấn cho các nhà đầu tư nhỏ lẻ. Trên bảng điện tử xuất hiện một lượng lớn cổ phiếu được đặt mua giá trần, các nhà đầu tư nghĩ rằng giá sẽ vẫn còn tiếp tục tăng mạnh nên cũng đặt mua ào ào theo ở giá trần, lệnh khớp liên tục và giá tăng nhanh chóng. Khi thấy lượng đặt mua đủ lớn, đội lái sẽ dùng tài khoản B bán dần cổ phiếu ra, với số lượng bán lớn hơn nhiều số lượng đặt mua.

Cách thức thứ hai thường xuyên được sử dụng là “xả hàng giá sàn”. Ngược lại với cách bên trên là giá sẽ đột ngột bị bán mạnh và thiết lập mức giá sàn, thông tin tốt lúc đó liên tục ra và lượng mua giá sàn “ảo” sẽ liên tục được đổ vào. Nhà đầu tư lúc này sẽ nhanh chóng bị vướng và cạm bẫy “bắt đáy” đã được thiết lập sẵn.

Cách thức cuối cùng được đề cập có phần táo bạo nhất là “xả hàng tổ chức”. Trong cách thức này đối tượng để đội lái phân phối hàng không phải là các nhà đầu tư nhỏ lẻ mà chính là nhà đầu tư tổ chức trong và ngoài nước, các quỹ đầu tư, quỹ ETF,…. Cách thức này thường được áp dụng với những doanh nghiệp có quy mô lớn và câu chuyện “làm giá” dài hơi.

Nhìn chung giai đoạn phân phối sẽ là giai đoạn cổ phiếu có khối lượng giao dịch cực khủng, mức độ biến động trong phiên lớn và thông tin về doanh nghiệp thì gần như ngập tràn trên các phương tiện truyền thông. Với mức giá tăng nhanh và giảm cũng đột ngột, báo chí nhắc đến thường xuyên và thanh khoản ngày càng tăng thì thật khó để nhà đầu tư nhỏ lẻ với “máu cờ bạc” không bị cuốn vào vọng xoáy này.

Khi việc phân phối hay xả hàng đã hoàn tất, hầu hết số lượng cổ phiếu đã được sang tay nhà đầu tư bên ngoài, đội lái sẽ không tiến hành mua lại nữa và đôi khi là quay trở lại đạp “thẳng tay”, giá cổ phiếu cũng sẽ nhanh chóng giảm mạnh. Các nhà đầu tư đã chót mua ở vùng giá đỉnh sẽ thiệt hại rất nặng nề và khi giá về vùng thấp đội lái lại “túc tắc” gòm hàng để tất toàn trạng thái tài khoản.

Nhìn một cách khách quan thì những hoạt động của đội lái về việc thao túng giá cổ phiếu cũng có những tác động nhất định đến sự hưng phấn, tạo thanh khoản cũng như giúp cho thị trường ngày càng sôi động hơn. Tuy nhiên không vì thế mà đội lái được đón nhận, bởi sau quá trình tăng giá phi mã của những cổ phiếu làm giá thì đâu đó chúng ta thấy được sự mất mát đau đớn của rất nhiều nhà đầu tư đã chót tin và chót mua theo đội lái.

CategoriesBài viết đầu tư

Dự báo chu kỳ kinh tế bằng mô hình Kondratiev Waves

Chu kỳ Kondratiev là một lý thuyết về các chy kỳ kinh tế nổi tiếng được đặt theo tên của Nikolai Dmitriyevich Kondratiev (1892 – 1938) – một nhà kinh tế học người Nga. Lý thuyết này còn được gọi dưới những cái tên như Kondratiev waves, hay Grand supercycles.

Chi tiết về tác giả:

Nikolai Dmitrievich Kondratiev (1892-1938) là một nhà kinh tế người Nga. Ông là người đặt nền móng cho học thuyết về các chu kỳ kinh tế gọi là sóng Kondratiev, đồng thời cũng là người thiết lập cơ sở lý thuyết cho Chính sách kinh tế mới (NEP) tại Liên Xô.

Kondratiev đã nhận dạng được các chu kỳ kinh tế kéo dài trong khoảng thời gian khoảng từ 50 đến 60 năm. Trong quyển sách mang tên The Major Economic Cycles xuất bản năm 1925, Ông đã chứng minh rằng nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thực tế đã có sự ổn định và điều này là trái ngược với quan điểm của các nhà Maxism Xô Viết khi những người này cho rằng nền kinh tế tư bản luôn bất ổn và sự sụp đổ là điều không thể tránh khỏi.

Quan điểm này không nhận được sự ủng hộ của Stalin. Ông bị Bộ Dân ủy Nội vụ Liên bang Nga (NKVD) bắt giữ năm 1930 theo sự buộc tội giả mạo và ngày 17 tháng 9 năm 1938 bị bắn tại trường bắn Kommunarka, tỉnh Moskva. ​

Làn sóng K là một chu kỳ 60 năm (+ / – một năm hoặc lâu hơn) với các giai đoạn nội bộ mà đôi khi được mô tả như là mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông.

  • Mùa xuân: nền kinh tế sẽ một yếu tố mới trong sản xuất, thời gian kinh tế tốt, lạm phát bắt đầu gia tăng.
  • Mùa hè: thời kỳ đỉnh, hay còn gọi là phát triển “nóng”, nền kinh tế đi lên trong sự nghi ngờ và lạm phát hai con số.
  • Mùa thu: sửa chữa “tài chính” của lạm phát dẫn đến một sự bùng nổ tín dụng tạo ra một cao nguyên liên tiếp sai lầm và sự thịnh vượng kết thúc trong một bong bóng đầu cơ.
  • Mùa đông: sức khỏe tài chính vượt quá sức chịu đựng bằng các món nợ khổng lồ, hàng hóa giảm phát và suy thoái kinh tế. Nền kinh tế vào giai đoạn suy tàn.

Thống kê chu kỳ Kondratiev​

Diễn giải mô hình Kondratiev​

Các thống kê của Kondratiev cho thấy các chu kỳ kinh tế thường kéo dài từ 50 đến 60 năm:

  • Trong đợt sóng lên của Chu kỳ đầu, mức giá hàng hóa tăng từ năm 1789 đến 1814 (tức 25 năm); đợt sóng đi xuống được bắt đầu từ năm 1814 và kết thúc năm 1849 (35 năm); như vậy Chu kỳ đầu tiên kéo dài trong 60 năm.
  • Đợt sóng lên của Chu kỳ thứ hai được bắt đầu năm 1849 và kết thúc năm 1873 (24 năm); sau đó lại đi xuống từ năm 1873 và kết thúc trong năm 1896 (23 năm); Chu kỳ thứ hai kéo dài 47 năm.
  • Đợt sóng lên của Chu kỳ thứ ba bắt đầu từ năm 1896 và kết thúc sau đó 24 năm, tức năm 1920; đợt sóng đi xuống ngay sau đó và kết thúc khoảng năm 1946; vậy Chu kỳ thứ ba kéo dài khoảng 50 năm.

Và như thế tác giả đã dự đoán chu kỳ kinh tế của các thòi kỳ tiếp theo và cuối cùng là mùa xuân gần nhất kéo dài từ 2003 đến năm 2006 và chúng ta đang ở mùa hè dự tính kéo dài từ 2007 khỏi nguồn từ khủng hoảng tín dụng và khủng hoảng nợ, mùa hè này sẽ kết thúc vào một năm nào đó được dự tính là 2015-2019.

Không chỉ mô tả 4 mùa tương ứng với 4 chu kỳ của nền kinh tế lớn, Kondratieff còn chỉ cho chúng ta đâu là đặc điểm kinh tế thị trường của từng chu kỳ và tiềm năng để chọn kênh đầu tư thích hợp cho từng chu kỳ này. ​

Chúng ta cùng xem và kiểm chứng độ chính xác của mô hình dự đoán chu kỳ kinh tế từ năm 1789 (Mùa xuân của chu kỳ đầu tiên) cho đến năm 2020 (mùa đông của chu thứ 4). Như vậy trong lịch sử chúng ta cỏ thể thấy độ phù hợp của mô hình với thực tế là khá cao nhưng tương lai thì sao? “Mùa đông” của chúng ta kéo dài đến khi nào và lịch sử liệu có lặp lại! ​

Bài viết chưa thể lột tả được hết bản chất của Kondratiev waves nhưng tôi mong rằng với bài viết này các bạn cũng có thể có cho mình một chút hiểu biết về mô hình khá nổi tiếng trên thế giới này.

error: Nội dung đã được bảo vệ!