CategoriesBài viết vĩ mô

Quan sát và chờ đợi

Đêm qua SBV đã tung tin giảm lãi suất điều hành. Những bài báo liên quan đến chủ đề này được khá nhiều sự quan tâm khi có hàng ngàn lượt like và chia sẻ. Chứng tỏ chính sách tiền tệ trong nước vẫn đang được giới đầu tư follow khá kỹ, tuy nhiên dưới đây là một số điều chúng ta nên hiểu hơn về giai đoạn này. Trước tiên hãy xem 4 biểu đồ trong hình dưới.

Lần hạ lãi suất này khác với những lần trước đó, SBV không nhắc tới lãi suất chiết khấu, tái cấp vốn mà chỉ hạ lãi suất tiền gửi bắt buộc và tiền gửi vượt mức của NHTM tại SBV. Ở Mỹ thì lãi suất vượt mức (Interst Rate on Excess Reserves) được coi là lãi suất rất quan trọng, nó từng được Fed rất trọng dụng để điều phối Effective Fed Fund Rate. Tuy nhiên ở Việt Nam lãi suất này vẫn không phải một chỉ báo quan trọng, hệ thống ngân hàng có dư tiền cũng không ưu tiên để tại SBV.

Continue reading
CategoriesBài viết vĩ mô

Bình luận chút về đợt hạ lãi suất

Lần hạ lãi suất này của NHNN mang tính chất “thị trường” và “tự nhiên” khi hội tụ đủ hai yếu tố cơ bản: lạm phát đã dần hạ nhiệt và thanh khoản hệ thống Ngân hàng tương đối dồi dào. Tuy nhiên, mức độ tác động sẽ không lớn.

Như công bố chiều ngày 12/05/2020, NHNN sẽ giảm một loạt các loại lãi suất điều hành. Theo đó, lãi suất tái cấp vốn từ 5,0%/năm xuống 4,5%/năm; lãi suất tái chiết khấu từ 3,5%/năm xuống 3,0%/năm; lãi suất chào mua giấy tờ có giá qua nghiệp vụ thị trường mở từ 3,5%/năm xuống 3,0%/năm.

Ngoài ra, NHNN cũng giảm trần lãi suất áp dụng đối với tiền gửi dưới 1 tháng từ 0,5%/năm xuống 0,2%/năm; tiền gửi có kỳ hạn từ 1 đến dưới 6 tháng từ 4,75%/năm xuống 4,25%/năm. Chưa áp trần lãi suất huy động có kỳ hạn dài hơn.

Một quyết định mang tính chất “thị trường”

Như chúng ta biết, hai điều kiện quan trọng nhất để lãi suất thị trường giảm là lạm phát kỳ vọng giảm và thanh khoản hệ thống dồi dào. Hiện tại cả 2 yếu tố này đều đang ủng hộ cho xu hướng giảm lãi suất.

Continue reading
CategoriesBài viết vĩ mô

Fed trở về với ZIRP

Rạng sáng ngày 16.03.2020, Fed đã có cuộc họp bất thường và công bố một gói kích thích kinh tế khổng lồ để giảm thiểu thiệt hại kinh tế chịu ảnh hưởng bởi sự bùng phát của Corona virus. Đáng chú ý nhất:

  • Fed đã cắt giảm biên độ lãi suất liên bang 100 điểm phần trăm xuống mức 0%-0.25%.
  • Fed sẽ thực hiện mua trái phiếu Chính phủ trị giá 500 tỷ đô la và mua Chứng khoán đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS) trị giá 200 tỷ đô la để hỗ trợ chức năng thị trường cho các loại hình tài sản này —> Chính thức tung QE4.
  • Hạ tỷ lệ dự trữ bắt buộc của tất cả các khối ngân hàng về 0%.
  • Powell cũng đề xuất rằng các khoản vay theo điều khoản 13.3 của Đạo luật Dự trữ Liên bang (khoản cho vay của Fed cho các tổ chức phi tài chính) vẫn là một phần của kế hoạch. Các khoản vay này bao gồm: TALF, CPPF, ….
  • Fed cũng công bố các biện pháp khác được thiết kế để hỗ trợ thanh khoản thị trường và dòng chảy tín dụng như liên quan đến nghiệp vụ cho vay chiết khấu và swap với Ngân hàng Trung ương.
CategoriesBài viết vĩ mô

Trước khi có FED – Inverted Yield Curve US là phổ biến

Trước khi FED ra đời (1913) hiện tượng đường cong lợi suất đảo ngược là một điều bình thường. Điều này cũng dễ hiểu khi trước đó hệ thống ngân hàng của Mỹ rất hỗn loạn và việc suy thoái kinh tế diễn ra liên tục với chu kỳ dày đặc.

CategoriesBài viết vĩ mô

Coupon rate và Yield

Dưới đây là thông tin về đợt phát hành thành công 1 tỷ USD trái phiếu quốc tế kỳ hạn 10 năm của chính phủ Việt Nam được thực hiện vào năm 2010 với coupon rate là 6.75%, yield là 6.95% và số tiền thu được là 985.76 triệu đô:

Amount: $1 Billion 
Maturity: Jan. 29, 2020 
Coupon: 6.75% 
Price: 98.576 
Yield: 6.95% 
Spread: 332.7 basis points over Treasurys 
Ratings: Ba3 (Moody’s Investors Service) 
BB (Standard & Poor’s) 

Câu hỏi đặt ra ở đây là coupon rate và yield khác nhau thế nào? Và tại sao chính phủ Việt Nam lại lựa chọn coupon rate và giá bán như thế?

Coupon rate là lãi suất tính bằng % trên giá trị phát hành mà nhà phát hành phải trả hàng năm cho trái chủ của mình. Coupon rate là một con số cố định, không phụ thuộc vào tình hình lãi suất trên thị trường và được yết ngay trên cuống phiếu. Việc lựa chọn coupon rate là bao nhiêu phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy nhiên nhà phát hành phải lựa chọn sao cho con số đủ để hấp dẫn thị trường và phù hợp với dòng luôn chuyển tiền của mình.

Khác với coupon rate, yield không cố định mà lên xuống liên tục theo diễn biến cung cầu thị trường và rủi ro tín dụng (CDS) tại từng thời điểm của nhà phát hành. Yield là linh hồn của trái phiếu và mọi quyết định mua bán trái phiếu của nhà đầu tư đều diễn biến theo yield chứ không phải coupon rate.

Như vậy chúng ta đã hiểu sự khác nhau giữa coupon rate và yield, tuy nhiên để trả lời câu hỏi tiếp theo về giá bán và coupon rate thì chúng ta phải đi tìm hiểu công thức khá quen thuộc này:

Trong đó:

C: là giá trị Coupon nhà đầu tư nhận được hàng năm dựa trên Coupon rate
r: là yield to maturity hay lợi suất đáo hạn của trái phiếu
F: là mệnh giá phát hành của trái phiếu
Po: là giá bán của trái phiếu
n: là kỳ hạn của trái phiếu

Nhìn vào công thức trên chúng ta có thể thấy, nếu F, n và r là những giá trị cố định thì khi nhà phát hành giảm C sẽ làm giá trái phiếu bán ra thấp hơn. Ngược lại nếu tăng C sẽ làm giá trái phiếu bán ra cao hơn. Như vậy việc lựa chọn C là bao nhiêu sẽ phụ thuộc vào việc nhà phát hành muốn bán giá nào khi phát hành. Trong khi giá bán là bao nhiêu lại phụ thuộc vào mục tiêu dòng tiền của tổ chức phát hành.

Ở một khía cạnh khác, nếu đơn vị phát hành muốn giữ nguyên C hàng năm nhưng vẫn bảo đảm yeild và giá phát hành như cũ thì sự lựa chọn sẽ là thay đổi kỳ hạn của trái phiếu lên xuống mức tương ứng.

Ví dụ Chính phủ Việt Nam phát hành trái phiếu 10 năm với coupon rate 5% trong khi yield nhà đầu tư yêu cầu là 7% thì giá bán trái phiếu cho nhà đầu tư sẽ phải thấp hơn mệnh giá của trái phiếu. Ngược lại nếu bán với coupon bằng 10% thì sẽ số tiền nhận được sẽ lớn hơn mệnh giá ghi sổ của trái phiếu. 

Một lần nữa chúng ta nhắc lại ở đây, lựa chọn coupon rate như thế nào so với yeild là tùy thuộc vào mục đích của nhà phát hành. Tuy nhiên nếu coupon rate quá cao so với yield sẽ gây ra khó khăn về mặt dòng tiền tương lai cho nhà phát hành, chưa kể về mặt tâm lý nhà đầu tư sẽ nghi ngại những loại bonds như vậy. Ở phía còn lại, nếu coup rate quá thấp cũng sẽ làm giảm số tiền thu được của nhà phát hành.

Quay trở lại với thông tin về đợt phát hành trái phiếu quốc tế của chính phủ Việt Nam ở đầu bài. Chúng ta thấy rằng coupon rate là 6.75% thấp hơn 0.2% so với yield là 6.95%. Điều này giúp chính phủ tiết kiệm được 2 triệu đô tiền trả lãi mỗi năm nhưng cũng đồng nghĩa với việc số tiền chính phủ thu được trong đợt phát hành chỉ là: 985.76 triệu USD chứ không phải 1 tỷ USD như mệnh giá.

Tính đến thời điểm hiện tại chính phủ Việt Nam đã có 3 lần phát hành trái phiếu thành công, dưới đây là thông tin về từng đợt phát hành. Dựa vào kiến thức vừa trao đổi, các bạn hãy thử đánh giá về mục tiêu và hiện trạng phát hành của chính phủ trong từng đợt phát hành xem thế nào!

P/s: Hãy đọc thêm bài viết này để hiểu hơn về 3 đợt phát hành thành công nếu bạn có thời gian: 
http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu–trao-doi/trao-doi-binh-luan/danh-gia-thuc-trang-phat-hanh-trai-phieu-quoc-te-cua-viet-nam-110392.html

CategoriesBài viết đầu tưBài viết vĩ mô

Cái chúng ta cần là “lãi suất thực”

Hãy tưởng tượng bạn gửi 100 triệu vào ngân hàng (hoặc cho ai đó vay tiền chẳng hạn), cuối năm ngân hàng trả bạn 10 triệu tiền lãi. Bạn dễ dàng tính được lãi suất mà bạn nhận được cho khoản tiền này là 10%. Đây chính là lãi suất danh nghĩa, lãi suất bạn nhìn thấy trên hợp đồng. Phần nhiều mọi người sử dụng cách tính này để đo lường hiệu suất giữa các kênh đầu tư và từ đó đưa ra quyết định đầu tư của mình. Tuy nhiên, đây là cách tính sai lầm.

Đầu tiên, bạn phải tính đến yếu tố lạm phát (bạn có thể hiểu nôm na lạm phát là con số thể hiện mức độ tăng của giá cả các mặt hàng thiết yếu trong nền kinh tế). Hãy tưởng tượng, lãi suất bạn thu được là 10%, tức nếu có 10,000 đồng thì bạn được 11,000 đồng vào cuối năm. Tuy nhiên bó rau ngoài chợ trước bạn mua giá 10,000 đồng giờ đã là 12,000 đồng (lạm phát một cách tương đối ở đây là 20%). Bạn mang 11,000 đồng thu được mang đi mua rau, lúc này đã không thể mua nổi bó rau đó nữa. Như vậy thực tế gửi tiền lúc này lãi suất còn không bằng mua bó rau muống vào đầu năm và mang ra bán vào cuối năm.

Thứ đến là rủi ro thanh khoản (tức là khả năng chuyển đổi thành tiền một cách nhanh chóng). Giả sử bạn cho 2 đối tác của mình vay mỗi người 1 tỷ đồng. Một người cầm cố khoản vay đó ở bạn với một mảnh đất có giá thị trường 1.2 tỷ và một người cầm cố một lượng trái phiếu chính phủ có mệnh giá cũng 1.2 tỷ. Nếu mọi thứ khác là như nhau thì lãi suất bạn cho ai vay sẽ cao hơn? Điều này phụ thuộc vào việc nếu có bất chắc, bạn bán cài nào nhanh hơn.

Continue reading
error: Nội dung đã được bảo vệ!